Giỏ hàng

Nghiên cứu về sử dụng ginsenoside Rg3 của công ty BTGin với tế bào ung thư phổi

Tóm tắt công trình nghiên cứu tổng hợp của 03 nhóm nghiên cứu tại trường đại học quốc gia Pusan, đại học CHA, đại học Kyungpook tại Hàn Quốc. Nghiên cứu được tiến hành dựa trên việc so sánh tác dụng của Rg3 lên các tế bào ung thư phổi được tiêm dưới da của chuột thí nghiệm. Kết quả ghi nhận Rg3 cho kết quả tích cực chỉ sau 23 ngày, và kích thước tế bào ưng thư cũng như sự tăng sinh mạch máu quanh các tế bào ung thư giảm rõ rêt.

Phương pháp nghiên cứu:

1.Tế bào ung thư phổi được tiêm dưới da để tạo khối u

2.Chuột được chia làm 2 nhóm: nhóm chứng và nhóm thử

2.1. Nhóm chứng: sau khi tiêm tế bào ung thư để tạo khối u thì được cho uống nước mỗi ngày

2.2. Nhóm thử: sau khi tiêm tế bào ung thư để tạo khối u thì được cho uống dung dịch Rg3 với nồng độ 600ug/kg/ngày

  1. Kích thước khối u được đo mỗi 3 ngày/lần
  2. Sau 24 ngày thì giết chuột có mang khối u để làm các thí nghiệm tiếp theo.

Kết quả:

-Kích thước khối u trên 2 nhóm chuột không thể hiện sự khá nhau nhiều sau 13 ngày.

-Tuy nhiên, ở ngày thứ 16, kích thước khối u ở nhóm chuột không được dùng Rg3 to hơn so với nhóm được dùng Rg3 và đến ngày thứ 23 thì kích thước khối u của nhóm chỉ uống nước to hơn hẳn so với nhóm được dùng Rg3 là 50%.

-Tăng sinh mạch máu là một trong những đặc tính quan trọng của ung thư. Nhóm nghiên cứu so sánh sự tăng sinh mạch máu trong khối u của 2 nhóm chuột.

-Hình C, màu xanh lá cây thể hiện mao mạch và động mạch được tạo thành trong khối u. Theo như hình C, ở nhóm chứng (ko dùng Rg3) thì số mao mạch và cả động mạch (mũi tên đỏ) mới được tạo thành đều nhiều hơn rất nhiều so với nhóm chuột được sử dụng Rg3.

-Dựa vào phần mềm đếm và thống kê các mao mạch và động mạch mới được tạo thành từ hình ảnh cắt lát các khối u, kết quả cho thấy sự tăng sinh mạch máu ở nhóm chuột được sử dụng Rg3 ít hơn rất nhiều so với nhóm chứng cả về số lượng mao mạch (E)  và động mạch (D).

Và may mắn đối với các bệnh nhân khi sử dụng sản phẩm Sâm Rg3 300, họ cải thiện sức khoẻ rõ rệt, ăn ngủ tốt hơn, đỡ đau hơn và đáp ứng quá trình điều trị tốt hơn. Thông thường các bệnh nhân sử dụng song song trong quá trình xạ và hoá trị để chống suy kiệt sức khoẻ, giảm lượng hoá chất tồn dư sau quá trình xạ trị.